Khám phá bảng xếp hạng Top 10 vụ nổ xếp hạng các vụ nổ kinh khủng nhất xảy ra trong vũ trụ. Vụ nổ đứng cuối bảng cũng đủ xóa sổ nhân loại và nền văn minh trên trái đất....
Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016
Giải mã đại nghi án thời Tam Quốc
Trinh Thanh
06:35
No comments
Trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Ngụy Diên là một phần tử kiên quyết chống Tào Ngụy, Gia Cát Lượng dự đoán sau khi ông qua đời Ngụy Diên cũng không từ bỏ cuộc chiến Bắc phạt, kiên trì đến cùng.
Tuy nhiên, Gia Cát Lượng rất hiểu Diên có tính tự cao tự đại, coi mình hơn người nhưng vì sợ uy danh Thừa tướng nên không dám làm bừa. Nếu Gia Cát Lượng qua đời thì Dương Nghi sao quản được Diên?
Cái chết oan ức
Ngụy Diên mưu phản là một đại nghi án của thời Tam Quốc. Đoạn lịch sử này có nhiều cách nói khác nhau: Có người cho rằng Diên là người trung thành, vô cớ bị hại chết; cũng có người cho Ngụy Diên là “loạn thần tặc tử”, bị giết là đáng; lại có người coi đó là cái vòng luẩn quẩn do Gia Cát Lượng... tự vẽ ra. Thế thì, Ngụy Diên rốt cục có mưu phản thật không?
Năm 223 sau Công Nguyên, Lưu Bị chết ở cung Vĩnh An, chính quyền Thục Hán bước vào một thời kỳ rắc rối đa sự. Mã Tốc bị chém vì để mất Nhai Đình, sau đến Lý Nghiêm bị phế, rồi Ngụy Diên mưu phản đã gây chấn động chính trường.
Về việc Ngụy Diên mưu phản, ấn tượng nhất có lẽ là do những mô tả trong tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa” nói ông có cái “phản cốt” sau gáy, trước sau gì tất cũng làm phản. Thực tế có chuyện đó hay không?
Năm 234, Gia Cát Lượng Bắc phạt lần thứ 5, do mệt mỏi lao lực sinh bệnh, chết trong doanh trại ở Ngũ Trượng Nguyên. Theo “Tam Quốc Chí. Ngụy Diên truyện”, trước khi chết, Gia Cát Lượng bí mật triệu tập Dương Nghi, Khương Duy, Phí Vĩ rồi di mệnh: Sau khi ông chết, không nên tiếp tục Bắc phạt mà rút hết quân về Thục; khi rút, để Ngụy Diên đi đoạn hậu rồi đến Khương Duy.
Khổng Minh dặn “nếu Diên không phục tùng mệnh lệnh thì kệ hắn, cứ việc rút quân”. Sau khi Gia Cát Lượng tắt thở, Phí Vĩ truyền đạt mệnh lệnh cho Diên, quả nhiên Diên nhảy dựng lên: “Bắt ta đoạn hậu ư? Không được! Thừa tướng chết, nhưng Ngụy Diên ta còn đây, sẽ tiếp tục lãnh đạo quân đội Bắc phạt.
Vì sao một người chết mà phải gác lại việc lớn của thiên hạ? Mà Ngụy Diên ta cớ gì phải đoạn hậu cho Dương Nghi kia chứ?” rồi kiên quyết yêu cầu Phí Vĩ tiếp tục Bắc phạt. Vĩ lấy cớ đi khuyên bảo Dương Nghi, nhảy lên ngựa quay đầu chạy biến.
Ngụy Diên khi đó mới nghĩ ra là không nên thả cho Phí Vĩ đi, vội cho thám tử dò xét. Thám tử về báo Dương Nghi tuân theo sắp đặt của Gia Cát Lượng, đã dẫn đại quân rút về Thành Đô.
Ngụy Diên nộ hỏa xung thiên: “Ngươi rút, ta cũng rút!” Thế là Diên dẫn quân chạy về phía Nam vượt lên trước đoàn quân của Nghi, vừa chạy vừa phá cầu, về đến cửa Nam Cốc. Dương Nghi trên đường dẫn quân rút lui thấy cầu đều bị phá, hai người tích oán đã lâu nay càng thêm chồng chất; thế là đều viết thư gửi về triều đình tố cáo đối phương mưu phản.
Hai bức thư tố cáo nhau đều tới tay hậu chủ Lưu Thiền. Lưu Thiền xem thư không hiểu, bèn hỏi Đổng Doãn, Tưởng Uyển: Rốt cục ai là kẻ mưu phản? Hai người nói: “Bệ hạ! Thần dám đảm bảo chắc chắn Dương Nghi không mưu phản; còn Ngụy Diên có phản hay không thì không dám chắc”.
Thế là Lưu Thiền lệnh cho Tưởng Uyển dẫn quân túc vệ lên phía Bắc chặn Ngụy Diên, Dương Nghi cũng dẫn quân xuống phía Nam truy kích Diên. Hai đạo quân vây chặt quân của Diên ở cửa Nam Cốc.
Ngụy Diên dẫn mấy tướng tâm phúc chạy đến Hán Trung, bị Mã Đại giết chết, xách thủ cấp đến dâng trước mặt Dương Nghi. Dương Nghi quẳng đầu Ngụy Diên xuống đất, dùng chân đạp, sau đó tru di tam tộc Ngụy Diên.
Phản biến thực chất là nội loạn
Nhà bình luận Tam Quốc nổi tiếng Trung Quốc Dịch Trung Thiên cho rằng, phán xét Ngụy Diên mưu phản là “vô duyên vô cớ, chẳng có bằng chứng, không hợp logic”.
Phục tùng là thiên chức của quân nhân, nếu Gia Cát Lượng đã hạ lệnh đoạn hậu, thì Diên phải phục tùng, sao có thể tự hành động, kéo quân về phía Nam? Định rút về Thành Đô hay muốn lật đổ chính quyền Thục Hán?
Chẳng ai làm rõ được! Mà vì sao lại phá đường rút của Dương Nghi bởi dễ khiến hiểu lầm Ngụy Diên mưu phản. Để tránh Dương Nghi cứu giá mới phá hoại cầu đường. Vì vậy Ngụy Diên đã bị vu vạ một cách vô cớ.
Càng không hợp logic ở chỗ Ngụy Diên lúc đó cả về tài năng thực lực đều thiếu, không đủ để xưng vương xưng đế. Nếu mưu phản, Diên chỉ có theo hàng Tào Ngụy và phải chạy ngay sang phía đối diện, chẳng có lý do gì phải dẫn quân Nam hạ.
Cho nên Trần Thọ suy đoán: Bản ý Ngụy Diên không phải hàng Tào Ngụy mà muốn giết chết Dương Nghi. Với vị trí, uy danh, công lao của Ngụy Diên khi đó, nếu giết Dương Nghi thì chỉ có Diên là người kế tục Gia Cát Lượng; như thế thì có thể tiếp tục Bắc phạt. Vì thế có thể kết luận: Vụ án Ngụy Diên không phải là mưu phản mà là nội loạn, là chuyện mâu thuẫn nội bộ giữa Ngụy Diên và Dương Nghi!
Dương Nghi sau khi rút về Thành Đô rất tự đắc, cho rằng mình dẫn được quân đội bình an trở về theo ý Thừa tướng, lại giết được Ngụy Diên, vất vả mà không được thưởng công, cần phải được thăng quan gia tước.
Thế nhưng, người được chọn kế thừa chức vụ Gia Cát Lượng lại là Tưởng Uyển thua kém mình, Dương Nghi bị cho ngồi chơi xơi nước, chẳng quyền lực cũng không có quân, nên bụng đầy oán giận. Khi Phí Vĩ đến an ủi, Dương Nghi nói ra miệng: “Biết thế này, chẳng thà theo Ngụy Diên tạo phản cho xong”.
Phí Vĩ đem những lời đó về báo triều đình trao cho Nghi chức tước cao hơn, Dương Nghi vẫn không an phận, tiếp tục oán trách, phỉ báng triều đình, cuối cùng tự sát mà chết. Cho nên kết quả của mối bất hòa Ngụy Diên – Dương Nghi là cả hai cùng chết.
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Ngụy Diên?
Các nhà sử học phần lớn đều cho rằng Dương Nghi là kẻ phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án oan Ngụy Diên do ân oán cá nhân, giết chết một đại tướng của nước Thục, tội lớn hơn tội Diên nhiều. Ngụy Diên lập nhiều công lao to lớn với chính quyền Thục Hán, không có sai sót gì, chịu tiếng xấu oan ức, thậm chí bị tru di tam tộc, lượng hình nặng đến thế đều do một tay Dương Nghi mà ra.
Nhưng Dương Nghi cũng oan ức vì chỉ triệt thoái theo lệnh của Gia Cát Lượng. Thế thì trách nhiệm thuộc về Ngụy Diên sao?. Theo “Tam Quốc Chí. Ngụy Diên truyện”, Bùi Tùng Chi chú dẫn sách “Ngụy lược” cho biết, Gia Cát Lượng cũng trao cho Ngụy Diên một mật lệnh, cho Diên thay chức ông để đưa tang về Thành Đô.
Thế thì trách nhiệm phải truy đến Gia Cát Lượng: Cố ý ra hai mật lệnh, chẳng phải nhằm xúi hai bên chống nhau sao? Cho nên có sử gia cho rằng, vụ án oan Ngụy Diên là do Gia Cát Lượng một tay dựng lên.
Nhưng học giả Dịch Trung Thiên cho rằng, cách nói của “Ngụy lược” không đáng tin, Bùi Tùng Chi cũng chỉ viết “Đó là tin từ phía nước địch”. Bởi Ngụy Diên không ở bên cạnh, sao Diên có thể hộ tống linh cữu Gia Cát Lượng về Nam?
Vả lại theo “Ngụy lược”, sau khi Ngụy Diên về đến cửa Nam Cốc, Dương Nghi dâng thư nói Diên chuẩn bị đầu hàng Tào Ngụy. Nếu muốn hàng Tào thì phải đi ngược lên phía Bắc chứ sao lại xuống phía Nam? Vì vậy cũng không thể nói Gia Cát Lượng đã hoạch định vụ án oan này được.
Vụ án Ngụy Diên mưu phản rốt cục là thế nào, cần phải quay lại phân tích di mệnh của Gia Cát Lượng. Vì sao ông ra lệnh để Diên đoạn hậu? Có ý kiến nói là bởi giữa hai người có bất đồng về quân sự. Ngụy Diên từng đề xuất với Gia Cát Lượng mưu kế đi tắt qua hang Tý Ngọ. Đó là một “kỳ mưu” chiến lược, chẳng khác nào Hàn Tín “ám độ Trần Thương” khi xưa, tuy mạo hiểm nhưng “xuất kỳ chế thắng”. Thế nhưng Gia Cát Lượng không dùng mưu đó.
Bắc phạt là sự nghiệp quan trọng của Gia Cát Lượng sau khi Lưu Bị chết, nhưng sự nghiệp đó dây dưa mãi không thành. Dịch Trung Thiên cho rằng: Bắc phạt không thể thắng lợi được do 3 nguyên do: “Tào Ngụy không thể suy vong nhanh, Ích Châu không phải đất tiến thủ, Gia Cát không có tài chiến lược”.
Gia Cát Lượng biết rõ, ông kiên trì Bắc phạt là muốn chuyển mâu thuẫn nội bộ của Thục Hán ra chiến tranh, dùng Bắc phạt để chấn hưng sĩ khí, quan trọng hơn là Gia Cát Lượng không muốn giao quyền quản lý chính trị cho ai, Ngụy Diên là mãnh tướng duy nhất của Thục Hán thời kỳ này, rất có thể là người kế thừa sự nghiệp Bắc phạt sau khi ông chết.
Gia Cát Lượng biết rõ Ngụy Diên sẽ không từ bỏ việc Bắc phạt; ông cũng rất hiểu Diên tự cao tự đại, luôn đặt mình cao nhất, nếu ông qua đời tất không coi bọn Dương Nghi ra gì, đám này tất sẽ phải theo Diên.
Với Gia Cát Lượng, việc quan trọng hàng đầu lúc đó là nhanh chóng đưa đại quân về Thành Đô để bảo vệ chính quyền Thục Hán. Chỉ có giữ được Thục Hán, sau này mới có cơ phục hưng nhà Hán. Đó là điều Gia Cát Lượng đau đáu tâm can, cho đến khi lâm chung vẫn nghĩ đến việc giữ lấy Thục Hán. Nhưng, 30 năm sau khi ông qua đời, Thục Hán đã bị diệt vong...
Tuy nhiên, Gia Cát Lượng rất hiểu Diên có tính tự cao tự đại, coi mình hơn người nhưng vì sợ uy danh Thừa tướng nên không dám làm bừa. Nếu Gia Cát Lượng qua đời thì Dương Nghi sao quản được Diên?
Cái chết oan ức
Ngụy Diên mưu phản là một đại nghi án của thời Tam Quốc. Đoạn lịch sử này có nhiều cách nói khác nhau: Có người cho rằng Diên là người trung thành, vô cớ bị hại chết; cũng có người cho Ngụy Diên là “loạn thần tặc tử”, bị giết là đáng; lại có người coi đó là cái vòng luẩn quẩn do Gia Cát Lượng... tự vẽ ra. Thế thì, Ngụy Diên rốt cục có mưu phản thật không?
Năm 223 sau Công Nguyên, Lưu Bị chết ở cung Vĩnh An, chính quyền Thục Hán bước vào một thời kỳ rắc rối đa sự. Mã Tốc bị chém vì để mất Nhai Đình, sau đến Lý Nghiêm bị phế, rồi Ngụy Diên mưu phản đã gây chấn động chính trường.
Về việc Ngụy Diên mưu phản, ấn tượng nhất có lẽ là do những mô tả trong tiểu thuyết “Tam Quốc diễn nghĩa” nói ông có cái “phản cốt” sau gáy, trước sau gì tất cũng làm phản. Thực tế có chuyện đó hay không?
Năm 234, Gia Cát Lượng Bắc phạt lần thứ 5, do mệt mỏi lao lực sinh bệnh, chết trong doanh trại ở Ngũ Trượng Nguyên. Theo “Tam Quốc Chí. Ngụy Diên truyện”, trước khi chết, Gia Cát Lượng bí mật triệu tập Dương Nghi, Khương Duy, Phí Vĩ rồi di mệnh: Sau khi ông chết, không nên tiếp tục Bắc phạt mà rút hết quân về Thục; khi rút, để Ngụy Diên đi đoạn hậu rồi đến Khương Duy.
Khổng Minh dặn “nếu Diên không phục tùng mệnh lệnh thì kệ hắn, cứ việc rút quân”. Sau khi Gia Cát Lượng tắt thở, Phí Vĩ truyền đạt mệnh lệnh cho Diên, quả nhiên Diên nhảy dựng lên: “Bắt ta đoạn hậu ư? Không được! Thừa tướng chết, nhưng Ngụy Diên ta còn đây, sẽ tiếp tục lãnh đạo quân đội Bắc phạt.
Vì sao một người chết mà phải gác lại việc lớn của thiên hạ? Mà Ngụy Diên ta cớ gì phải đoạn hậu cho Dương Nghi kia chứ?” rồi kiên quyết yêu cầu Phí Vĩ tiếp tục Bắc phạt. Vĩ lấy cớ đi khuyên bảo Dương Nghi, nhảy lên ngựa quay đầu chạy biến.
Ngụy Diên khi đó mới nghĩ ra là không nên thả cho Phí Vĩ đi, vội cho thám tử dò xét. Thám tử về báo Dương Nghi tuân theo sắp đặt của Gia Cát Lượng, đã dẫn đại quân rút về Thành Đô.
Ngụy Diên nộ hỏa xung thiên: “Ngươi rút, ta cũng rút!” Thế là Diên dẫn quân chạy về phía Nam vượt lên trước đoàn quân của Nghi, vừa chạy vừa phá cầu, về đến cửa Nam Cốc. Dương Nghi trên đường dẫn quân rút lui thấy cầu đều bị phá, hai người tích oán đã lâu nay càng thêm chồng chất; thế là đều viết thư gửi về triều đình tố cáo đối phương mưu phản.
Hai bức thư tố cáo nhau đều tới tay hậu chủ Lưu Thiền. Lưu Thiền xem thư không hiểu, bèn hỏi Đổng Doãn, Tưởng Uyển: Rốt cục ai là kẻ mưu phản? Hai người nói: “Bệ hạ! Thần dám đảm bảo chắc chắn Dương Nghi không mưu phản; còn Ngụy Diên có phản hay không thì không dám chắc”.
Thế là Lưu Thiền lệnh cho Tưởng Uyển dẫn quân túc vệ lên phía Bắc chặn Ngụy Diên, Dương Nghi cũng dẫn quân xuống phía Nam truy kích Diên. Hai đạo quân vây chặt quân của Diên ở cửa Nam Cốc.
Ngụy Diên dẫn mấy tướng tâm phúc chạy đến Hán Trung, bị Mã Đại giết chết, xách thủ cấp đến dâng trước mặt Dương Nghi. Dương Nghi quẳng đầu Ngụy Diên xuống đất, dùng chân đạp, sau đó tru di tam tộc Ngụy Diên.
Phản biến thực chất là nội loạn
Nhà bình luận Tam Quốc nổi tiếng Trung Quốc Dịch Trung Thiên cho rằng, phán xét Ngụy Diên mưu phản là “vô duyên vô cớ, chẳng có bằng chứng, không hợp logic”.
Phục tùng là thiên chức của quân nhân, nếu Gia Cát Lượng đã hạ lệnh đoạn hậu, thì Diên phải phục tùng, sao có thể tự hành động, kéo quân về phía Nam? Định rút về Thành Đô hay muốn lật đổ chính quyền Thục Hán?
Chẳng ai làm rõ được! Mà vì sao lại phá đường rút của Dương Nghi bởi dễ khiến hiểu lầm Ngụy Diên mưu phản. Để tránh Dương Nghi cứu giá mới phá hoại cầu đường. Vì vậy Ngụy Diên đã bị vu vạ một cách vô cớ.
Càng không hợp logic ở chỗ Ngụy Diên lúc đó cả về tài năng thực lực đều thiếu, không đủ để xưng vương xưng đế. Nếu mưu phản, Diên chỉ có theo hàng Tào Ngụy và phải chạy ngay sang phía đối diện, chẳng có lý do gì phải dẫn quân Nam hạ.
Cho nên Trần Thọ suy đoán: Bản ý Ngụy Diên không phải hàng Tào Ngụy mà muốn giết chết Dương Nghi. Với vị trí, uy danh, công lao của Ngụy Diên khi đó, nếu giết Dương Nghi thì chỉ có Diên là người kế tục Gia Cát Lượng; như thế thì có thể tiếp tục Bắc phạt. Vì thế có thể kết luận: Vụ án Ngụy Diên không phải là mưu phản mà là nội loạn, là chuyện mâu thuẫn nội bộ giữa Ngụy Diên và Dương Nghi!
Dương Nghi sau khi rút về Thành Đô rất tự đắc, cho rằng mình dẫn được quân đội bình an trở về theo ý Thừa tướng, lại giết được Ngụy Diên, vất vả mà không được thưởng công, cần phải được thăng quan gia tước.
Thế nhưng, người được chọn kế thừa chức vụ Gia Cát Lượng lại là Tưởng Uyển thua kém mình, Dương Nghi bị cho ngồi chơi xơi nước, chẳng quyền lực cũng không có quân, nên bụng đầy oán giận. Khi Phí Vĩ đến an ủi, Dương Nghi nói ra miệng: “Biết thế này, chẳng thà theo Ngụy Diên tạo phản cho xong”.
Phí Vĩ đem những lời đó về báo triều đình trao cho Nghi chức tước cao hơn, Dương Nghi vẫn không an phận, tiếp tục oán trách, phỉ báng triều đình, cuối cùng tự sát mà chết. Cho nên kết quả của mối bất hòa Ngụy Diên – Dương Nghi là cả hai cùng chết.
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Ngụy Diên?
Các nhà sử học phần lớn đều cho rằng Dương Nghi là kẻ phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án oan Ngụy Diên do ân oán cá nhân, giết chết một đại tướng của nước Thục, tội lớn hơn tội Diên nhiều. Ngụy Diên lập nhiều công lao to lớn với chính quyền Thục Hán, không có sai sót gì, chịu tiếng xấu oan ức, thậm chí bị tru di tam tộc, lượng hình nặng đến thế đều do một tay Dương Nghi mà ra.
Nhưng Dương Nghi cũng oan ức vì chỉ triệt thoái theo lệnh của Gia Cát Lượng. Thế thì trách nhiệm thuộc về Ngụy Diên sao?. Theo “Tam Quốc Chí. Ngụy Diên truyện”, Bùi Tùng Chi chú dẫn sách “Ngụy lược” cho biết, Gia Cát Lượng cũng trao cho Ngụy Diên một mật lệnh, cho Diên thay chức ông để đưa tang về Thành Đô.
Thế thì trách nhiệm phải truy đến Gia Cát Lượng: Cố ý ra hai mật lệnh, chẳng phải nhằm xúi hai bên chống nhau sao? Cho nên có sử gia cho rằng, vụ án oan Ngụy Diên là do Gia Cát Lượng một tay dựng lên.
Nhưng học giả Dịch Trung Thiên cho rằng, cách nói của “Ngụy lược” không đáng tin, Bùi Tùng Chi cũng chỉ viết “Đó là tin từ phía nước địch”. Bởi Ngụy Diên không ở bên cạnh, sao Diên có thể hộ tống linh cữu Gia Cát Lượng về Nam?
Vả lại theo “Ngụy lược”, sau khi Ngụy Diên về đến cửa Nam Cốc, Dương Nghi dâng thư nói Diên chuẩn bị đầu hàng Tào Ngụy. Nếu muốn hàng Tào thì phải đi ngược lên phía Bắc chứ sao lại xuống phía Nam? Vì vậy cũng không thể nói Gia Cát Lượng đã hoạch định vụ án oan này được.
Vụ án Ngụy Diên mưu phản rốt cục là thế nào, cần phải quay lại phân tích di mệnh của Gia Cát Lượng. Vì sao ông ra lệnh để Diên đoạn hậu? Có ý kiến nói là bởi giữa hai người có bất đồng về quân sự. Ngụy Diên từng đề xuất với Gia Cát Lượng mưu kế đi tắt qua hang Tý Ngọ. Đó là một “kỳ mưu” chiến lược, chẳng khác nào Hàn Tín “ám độ Trần Thương” khi xưa, tuy mạo hiểm nhưng “xuất kỳ chế thắng”. Thế nhưng Gia Cát Lượng không dùng mưu đó.
Bắc phạt là sự nghiệp quan trọng của Gia Cát Lượng sau khi Lưu Bị chết, nhưng sự nghiệp đó dây dưa mãi không thành. Dịch Trung Thiên cho rằng: Bắc phạt không thể thắng lợi được do 3 nguyên do: “Tào Ngụy không thể suy vong nhanh, Ích Châu không phải đất tiến thủ, Gia Cát không có tài chiến lược”.
Gia Cát Lượng biết rõ, ông kiên trì Bắc phạt là muốn chuyển mâu thuẫn nội bộ của Thục Hán ra chiến tranh, dùng Bắc phạt để chấn hưng sĩ khí, quan trọng hơn là Gia Cát Lượng không muốn giao quyền quản lý chính trị cho ai, Ngụy Diên là mãnh tướng duy nhất của Thục Hán thời kỳ này, rất có thể là người kế thừa sự nghiệp Bắc phạt sau khi ông chết.
Gia Cát Lượng biết rõ Ngụy Diên sẽ không từ bỏ việc Bắc phạt; ông cũng rất hiểu Diên tự cao tự đại, luôn đặt mình cao nhất, nếu ông qua đời tất không coi bọn Dương Nghi ra gì, đám này tất sẽ phải theo Diên.
Với Gia Cát Lượng, việc quan trọng hàng đầu lúc đó là nhanh chóng đưa đại quân về Thành Đô để bảo vệ chính quyền Thục Hán. Chỉ có giữ được Thục Hán, sau này mới có cơ phục hưng nhà Hán. Đó là điều Gia Cát Lượng đau đáu tâm can, cho đến khi lâm chung vẫn nghĩ đến việc giữ lấy Thục Hán. Nhưng, 30 năm sau khi ông qua đời, Thục Hán đã bị diệt vong...
GoAR - Using iPhone camera to find Pokemon
Trinh Thanh
04:56
No comments
Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016
Google xây dựng tuyến cáp quang biển mới, đứt cáp sẽ không còn là mối lo ngại
Trinh Thanh
11:58
No comments
Tuyến cáp quang mới sẽ mang tên Faster với năng lực truyền tải dữ liệu cao nhất lên đến 60 terabyte/s.
Vừa qua, Google đã phối hợp cùng với 5 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn tại Châu Á bao gồm China Mobile International, China Telecom Global (Trung Quốc), Global Transit (Malaysia), KDDI (Nhật) và SingTel (Singapore) nhằm xây dựng một tuyến cáp quang ngầm dưới biển từ Mỹ đến Nhật để tăng băng thông truy cập mạng của người dùng Internet tại nhiều nơi trên thế giới. Tuyến cáp quang mới sẽ mang tên Faster với năng lực truyền tải dữ liệu cao nhất lên đến 60 terabyte/s.
Working on undersea cable
Faster sẽ giúp các công ty kết nối các trung tâm dữ liệu của mình ở Mỹ và ở Châu Á hiệu quả hơn cũng như hỗ trợ nhu cầu trao đổi dữ liệu trong nội bộ Google xuyên qua nhiều châu lục. Ngoài ra, việc xây dựng Faster sẽ có thể tăng tốc độ kết nối Internet cho châu Á và toàn thế giới bên cạnh kết nối riêng giữa Nhật Bản và Mỹ. Đồng nghĩa rằng tình trạng đau đầu và bực mình khi lướt web mỗi đứt cáp của người dùng Việt sẽ được giảm thiểu đáng kể.
Faster đã bắt đầu được xây dưng và dự kiến sẽ hoàn tất trong năm 2016 với tổng số vốn đầu tư lên tới 300 triệu USD.
Theo Trí Thức Trẻ
Tham khảo: Engadget
Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016
Giải mã thời Tam quốc: Tôn Kiên và thực hư chuyện ngọc tỷ
Trinh Thanh
12:38
No comments
TPO - Cuộc chiến với Đổng Trác đã giúp nâng tầm vóc của Tôn Kiên lên hàng một năng thần. Tham gia liên quân phạt Đổng, Tôn Kiên đã cho cả thiên hạ thấy rằng, thế nào mới là một trung thần mẫu mực, thế nào mới là một thần tử đúng nghĩa.
Phê Viên Thuật, diệt Vương Duệ, chém Trương Tư
Trong liên quân Quan Đông chỉ có hai người thật lòng muốn đánh Đổng Trác trừ hại cho thiên hạ là Tôn Kiên và Tào Tháo, nhưng hai người này cũng gặp không ít gian nan. Nếu như Tào Tháo hô hào không được ai hưởng ứng, xuất kế đánh địch không có ai ủng hộ, bị đám chư hầu “chỉ biết nói suông” kia làm cho tức chết, thì Tôn Kiên cũng không khá hơn. Ông bị đám người cùng trận tuyến khinh thường coi rẻ, không cấp quân lương, không hỗ trợ.
Thế nhưng cách mà Tào-Tôn phản ứng lại cũng khác nhau. Tào Tháo nói không ai nghe cũng không biết làm sao, thua trận thì quay về căn cứ. Còn Tôn Kiên thua thì phải đánh cho thắng mới dừng, kẻ nào không chịu hỗ trợ, không chịu phối hợp thì phê bình nghiêm khắc, thậm chí tiêu diệt!
Tác phong táo bạo quyết đoán và triệt để này chính là đặc trưng của Tôn Kiên, mà sau này cũng được Tôn gia kế thừa. Viên huyện lại mười bảy tuổi Tôn Kiên ở sông Tiền Đường năm nào dám một mình hù dọa cả trăm tên hải tặc, viên Tư mã Tôn Văn Đài dũng cảm xung phong leo lên thành trì phá giặc làm gương cho binh sĩ, cũng phảng phất cái oai hùng dũng liệt của Tiểu Bá Vương Tôn Sách một ngựa một thương tung hoành Giang Đông sau này.
Với cá tính quyết liệt và triệt để đó, ai dám cản trở quyết tâm của Tôn Kiên đương nhiên sẽ bị tiêu diệt. Thứ sử Kinh Châu Vương Duệ dám “nói năng vô lễ”, Thái thú Nam Dương Trương Tư “đường xá chưa tu sửa, quân tư trang không đầy đủ”, “không cấp quân lương” [1], đều bị Kiên giết chết. Một kẻ có quyền lực khác, quân hàm rất cao, gia thế rất mạnh là Hậu Tướng quân Viên Thuật cũng bị Kiên phê bình nghiêm khắc.
Vốn là sau Tôn Kiên khi đại phá Đổng Trác, chém đầu Hoa Hùng ở Dương Nhân, thì Viên Thuật nghe lời gièm pha của người khác nên không chuyển quân lương cho Kiên nữa. Tôn Kiên hết sức quyết liệt và khẩn trương, ngay trong đêm phi ngựa hơn trăm dặm (hơn 50 km) về Lỗ Dương trách cứ Viên Thuật, lời lẽ hết sức minh bạch rõ ràng: “Ta sở dĩ đem thân xông xáo chẳng hề đoái hoài đến mình” như vậy là có hai lí do: “trên vì quốc gia đánh giặc”, mà “dưới vì tư thù của gia tộc tướng quân” (Đổng Trác nghe tin Viên Thiệu là thủ lĩnh quân Quan Đông liền giết hết họ hàng của Thiệu và Thuật, trong đó có cả Thái phó Viên Ngỗi). Ấy vậy mà “tướng quân lại nghe lời gièm, khiến chúng ta ngờ vực lẫn nhau” [1]. Phê bình có tình có lý như thế khiến Viên Thuật không nói gì được, đành “rất áy náy” mà điều phát quân lương trở lại cho Kiên.
Có thể nói trong liên quân phạt Đổng khi đó, Tôn Kiên đã tỏa sáng rực rỡ, không chỉ nhờ võ công mà còn do văn chí, lên ngựa không chỉ biết đánh thắng, xuống ngựa còn biết tạo lập chuẩn mực, chỉ ra cái sai, phê bình góp ý. Kiên đã cho cả thiên hạ thấy rằng, thế nào mới là một trung thần mẫu mực, thế nào mới là một thần tử đúng nghĩa.
Nếu như Tào Tháo trong giai đoạn này còn được đánh giá là năng thần, Tôn Kiên tại sao không thể là năng thần?
Tôn Kiên rõ ràng chính là một năng thần mẫu mực. Chỉ là ông ta gặp chút rắc rối về vấn đề ngọc tỉ.
Thực hư chuyện ngọc tỉ
Đổng Trác cầu hòa với Tôn Kiên không xong, bèn rút khỏi Lạc Dương chạy về Trường An. Trước khi đi Trác còn làm một chuyện tệ hại là “đốt cháy cung thất, đào bới lăng mộ, lấy hết vật báu”, khiến cho “cựu kinh rỗng không hoang tàn, trong vòng mấy trăm dặm không hề có khói lửa”. Vị trung thần Tôn Kiên vào Lạc Dương nhìn thấy cảnh ấy, không cầm lòng được đã “buồn bã rơi nước mắt”, rồi sau đó Kiên “tu bổ lăng mộ”, “quét dọn tông miếu”, “sửa sang lại việc tế tự” [1]. Tôn Kiên đã làm tất cả những gì có thể để vãn hồi lại mặt mũi cho một vương triều Hán vốn đã bị Đổng Trác tàn phá đến không còn chút thể diện. Đó cũng là hoàn cảnh của câu chuyện ngọc tỉ.
“Tam Quốc Chí - Tôn Phá Lỗ, Thảo Nghịch truyện” có trích một đoạn từ “Ngô thư” nói quân của Tôn Kiên tìm thấy trong giếng Chân Quan một cái “ấn ngọc truyền quốc” có khắc tám chữ “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương” [2]; cũng trích “Sơn Dương công tái ký” nói rằng khi Viên Thuật sắp tiếm hiệu, đã uy hiếp mẹ của Kiên để đoạt lấy ấn ngọc này. Như vậy, câu chuyện Tôn Kiên âm thầm chiếm giữ ngọc tỉ phải chăng là có thật?
Phần “chú” của Bùi Tùng Chi trong Tam Quốc Chí còn cung cấp tài liệu từ nhiều nguồn khác. Chẳng hạn, sách “Chí lâm” của Ngu Hỷ chép rằng ấn ngọc của Thiên tử thật ra có đến sáu cái, chữ khắc trên đó lần lượt là “Hoàng đế chi tỉ”, “Hoàng đế hành tỉ”, “Hoàng đế tín tỉ”, “Thiên tử chi tỉ”, “Thiên tử hành tỉ”, “Thiên tử tín tỉ”. Như vậy số lượng và chữ khắc trên ngọc tỉ đều khác so với ấn ngọc mà Tôn Kiên thu được, liệu ấn mà Tôn Kiên thu được có đúng là ngọc tỉ hay chỉ là một loại ấn khác?
Sách “Hán cung” của họ Ứng thì chữ khắc trên ngọc tỉ truyền quốc lại là “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ thả khang” [3], cũng khác với cái ấn ở Lạc Dương, vậy có phải Tôn Kiên đã bị oan?
Chính vì sự việc còn không rõ ràng, các sách chép khác nhau, nên Trần Thọ trong phần chính văn của Tam Quốc Chí đã không đưa chi tiết Tôn Kiên giấu ngọc tỉ vào trong bộ sử này. Thực hư ra sao, có lẽ khó có đáp án chính xác. Nhưng trong phần “chú” của Tam Quốc Chí, Bùi Tùng Chi có bàn về dữ liệu trong “Ngô thư” (bộ sử về nhà Ngô) rằng “Sử quan nước Ngô muốn làm rạng rỡ cho nước mình, nhưng chẳng biết là đã làm tổn hại đến cái đức tốt của Kiên” (tức là có khả năng “Ngô thư” đã thêm thắt chi tiết ngọc tỉ vào – NV), có thể xem là một lí giải phù hợp vậy.
Tiên chủ của Giang Đông
Tôn Kiên từng một lần rơi nước mắt khi chứng kiến đô thành Lạc Dương bị Đổng Trác tàn phá. Còn có lần thứ hai “mãnh hổ Giang Đông” này rơi lệ, là khi Viên Thiệu phái người đến đánh Kiên để tranh giành Dự Châu. Đổng tặc ở Trường An còn chưa phá được thì các chư hầu đã lo vun vén cơ đồ riêng, khiến cho Kiên phải bùi ngùi mà than rằng: “Cùng cất nghĩa binh, cứu giúp xã tắc. Nghịch tặc sắp bị phá mà mọi người như thế, ta sẽ hợp sức với ai đây!”.
Mười tám lộ chư hầu phạt Đổng là một cột mốc khiến cho nhiều người lột bỏ lớp mặt nạ, cũng sẽ khiến cho nhiều người thay đổi tâm tư. Tào Tháo từ một năng thần dần dần biến thành gian hùng. Viên Thiệu, Viên Thuật vốn mang danh trung thần rồi sẽ từ từ hóa thành kiêu hùng, bộc lộ dã tâm. Còn Tôn Kiên – một anh hùng đúng nghĩa cho đến thời điểm ấy, lại bối rối không biết về đâu, theo ai. Và cũng tại thời điểm ấy, Kiên bất hạnh qua đời, chết vì trúng phục binh của Hoàng Tổ khi dám “một mình một ngựa” [1] đi qua Hiện Sơn. Chiến tướng “lấy một cản trăm” năm xưa nay phải bỏ mình cũng vì sự táo bạo đã thành thói quen đó, cái chết ấy cũng không khác chuyện Tôn Sách sau này đi một mình rồi bị ám sát là bao. Dũng cảm quyết đoán, đến mức liều lĩnh khích liệt, để rồi chết trẻ, sự nghiệp dang dở, để lại bao nuối tiếc… âu cũng là một loại lựa chọn, một kiểu số phận của hai cha con Tôn Kiên – Tôn Sách vậy.
Tôn Kiên chết nhưng cơ nghiệp Giang Đông lại chỉ mới bắt đầu. Mãnh hổ mất đi nhưng vẫn còn đó bộ khúc và tướng sĩ trung thành. Chính lực lượng này sẽ là tiền đề cho Tôn Sách chinh phạt khắp miền Đông Nam về sau. Danh tiếng và uy vọng của Tôn Kiên cũng chính là cơ sở để người tài theo về với Tôn gia. Cơ nghiệp Giang Đông đã được xây nên từ những viên gạch đầu tiên như thế.
Đất Giang Đông không chỉ có mãnh hổ Tôn Kiên, Tiểu Bá Vương Tôn Sách hay Ngô chủ Tôn Quyền, mà còn có một Tôn Thượng Hương tuyệt sắc và cũng không kém phần oai hùng, về sau được gả cho chủ nhân Thục Hán – Lưu Bị. Cuộc hôn nhân này có gì đặc biệt?
Chú thích và tham khảo:
[1] Tam Quốc Chí – Tôn Phá Lỗ, Thảo Nghịch truyện (NXB Văn học 2016, Bùi Thông dịch, Phạm Thành Long hiệu đính).
[2] Tức “nhận mệnh trời ban, thọ lâu vĩnh viễn”.
[3] Tức “nhận mệnh trời ban, thọ lâu khỏe mạnh”.
Trong liên quân Quan Đông chỉ có hai người thật lòng muốn đánh Đổng Trác trừ hại cho thiên hạ là Tôn Kiên và Tào Tháo.
Phê Viên Thuật, diệt Vương Duệ, chém Trương Tư
Trong liên quân Quan Đông chỉ có hai người thật lòng muốn đánh Đổng Trác trừ hại cho thiên hạ là Tôn Kiên và Tào Tháo, nhưng hai người này cũng gặp không ít gian nan. Nếu như Tào Tháo hô hào không được ai hưởng ứng, xuất kế đánh địch không có ai ủng hộ, bị đám chư hầu “chỉ biết nói suông” kia làm cho tức chết, thì Tôn Kiên cũng không khá hơn. Ông bị đám người cùng trận tuyến khinh thường coi rẻ, không cấp quân lương, không hỗ trợ.
Thế nhưng cách mà Tào-Tôn phản ứng lại cũng khác nhau. Tào Tháo nói không ai nghe cũng không biết làm sao, thua trận thì quay về căn cứ. Còn Tôn Kiên thua thì phải đánh cho thắng mới dừng, kẻ nào không chịu hỗ trợ, không chịu phối hợp thì phê bình nghiêm khắc, thậm chí tiêu diệt!
Tác phong táo bạo quyết đoán và triệt để này chính là đặc trưng của Tôn Kiên, mà sau này cũng được Tôn gia kế thừa. Viên huyện lại mười bảy tuổi Tôn Kiên ở sông Tiền Đường năm nào dám một mình hù dọa cả trăm tên hải tặc, viên Tư mã Tôn Văn Đài dũng cảm xung phong leo lên thành trì phá giặc làm gương cho binh sĩ, cũng phảng phất cái oai hùng dũng liệt của Tiểu Bá Vương Tôn Sách một ngựa một thương tung hoành Giang Đông sau này.
Với cá tính quyết liệt và triệt để đó, ai dám cản trở quyết tâm của Tôn Kiên đương nhiên sẽ bị tiêu diệt. Thứ sử Kinh Châu Vương Duệ dám “nói năng vô lễ”, Thái thú Nam Dương Trương Tư “đường xá chưa tu sửa, quân tư trang không đầy đủ”, “không cấp quân lương” [1], đều bị Kiên giết chết. Một kẻ có quyền lực khác, quân hàm rất cao, gia thế rất mạnh là Hậu Tướng quân Viên Thuật cũng bị Kiên phê bình nghiêm khắc.
Vốn là sau Tôn Kiên khi đại phá Đổng Trác, chém đầu Hoa Hùng ở Dương Nhân, thì Viên Thuật nghe lời gièm pha của người khác nên không chuyển quân lương cho Kiên nữa. Tôn Kiên hết sức quyết liệt và khẩn trương, ngay trong đêm phi ngựa hơn trăm dặm (hơn 50 km) về Lỗ Dương trách cứ Viên Thuật, lời lẽ hết sức minh bạch rõ ràng: “Ta sở dĩ đem thân xông xáo chẳng hề đoái hoài đến mình” như vậy là có hai lí do: “trên vì quốc gia đánh giặc”, mà “dưới vì tư thù của gia tộc tướng quân” (Đổng Trác nghe tin Viên Thiệu là thủ lĩnh quân Quan Đông liền giết hết họ hàng của Thiệu và Thuật, trong đó có cả Thái phó Viên Ngỗi). Ấy vậy mà “tướng quân lại nghe lời gièm, khiến chúng ta ngờ vực lẫn nhau” [1]. Phê bình có tình có lý như thế khiến Viên Thuật không nói gì được, đành “rất áy náy” mà điều phát quân lương trở lại cho Kiên.
Có thể nói trong liên quân phạt Đổng khi đó, Tôn Kiên đã tỏa sáng rực rỡ, không chỉ nhờ võ công mà còn do văn chí, lên ngựa không chỉ biết đánh thắng, xuống ngựa còn biết tạo lập chuẩn mực, chỉ ra cái sai, phê bình góp ý. Kiên đã cho cả thiên hạ thấy rằng, thế nào mới là một trung thần mẫu mực, thế nào mới là một thần tử đúng nghĩa.
Nếu như Tào Tháo trong giai đoạn này còn được đánh giá là năng thần, Tôn Kiên tại sao không thể là năng thần?
Tôn Kiên rõ ràng chính là một năng thần mẫu mực. Chỉ là ông ta gặp chút rắc rối về vấn đề ngọc tỉ.
Thực hư chuyện ngọc tỉ
Đổng Trác cầu hòa với Tôn Kiên không xong, bèn rút khỏi Lạc Dương chạy về Trường An. Trước khi đi Trác còn làm một chuyện tệ hại là “đốt cháy cung thất, đào bới lăng mộ, lấy hết vật báu”, khiến cho “cựu kinh rỗng không hoang tàn, trong vòng mấy trăm dặm không hề có khói lửa”. Vị trung thần Tôn Kiên vào Lạc Dương nhìn thấy cảnh ấy, không cầm lòng được đã “buồn bã rơi nước mắt”, rồi sau đó Kiên “tu bổ lăng mộ”, “quét dọn tông miếu”, “sửa sang lại việc tế tự” [1]. Tôn Kiên đã làm tất cả những gì có thể để vãn hồi lại mặt mũi cho một vương triều Hán vốn đã bị Đổng Trác tàn phá đến không còn chút thể diện. Đó cũng là hoàn cảnh của câu chuyện ngọc tỉ.
“Tam Quốc Chí - Tôn Phá Lỗ, Thảo Nghịch truyện” có trích một đoạn từ “Ngô thư” nói quân của Tôn Kiên tìm thấy trong giếng Chân Quan một cái “ấn ngọc truyền quốc” có khắc tám chữ “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương” [2]; cũng trích “Sơn Dương công tái ký” nói rằng khi Viên Thuật sắp tiếm hiệu, đã uy hiếp mẹ của Kiên để đoạt lấy ấn ngọc này. Như vậy, câu chuyện Tôn Kiên âm thầm chiếm giữ ngọc tỉ phải chăng là có thật?
Phần “chú” của Bùi Tùng Chi trong Tam Quốc Chí còn cung cấp tài liệu từ nhiều nguồn khác. Chẳng hạn, sách “Chí lâm” của Ngu Hỷ chép rằng ấn ngọc của Thiên tử thật ra có đến sáu cái, chữ khắc trên đó lần lượt là “Hoàng đế chi tỉ”, “Hoàng đế hành tỉ”, “Hoàng đế tín tỉ”, “Thiên tử chi tỉ”, “Thiên tử hành tỉ”, “Thiên tử tín tỉ”. Như vậy số lượng và chữ khắc trên ngọc tỉ đều khác so với ấn ngọc mà Tôn Kiên thu được, liệu ấn mà Tôn Kiên thu được có đúng là ngọc tỉ hay chỉ là một loại ấn khác?
Sách “Hán cung” của họ Ứng thì chữ khắc trên ngọc tỉ truyền quốc lại là “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ thả khang” [3], cũng khác với cái ấn ở Lạc Dương, vậy có phải Tôn Kiên đã bị oan?
Chính vì sự việc còn không rõ ràng, các sách chép khác nhau, nên Trần Thọ trong phần chính văn của Tam Quốc Chí đã không đưa chi tiết Tôn Kiên giấu ngọc tỉ vào trong bộ sử này. Thực hư ra sao, có lẽ khó có đáp án chính xác. Nhưng trong phần “chú” của Tam Quốc Chí, Bùi Tùng Chi có bàn về dữ liệu trong “Ngô thư” (bộ sử về nhà Ngô) rằng “Sử quan nước Ngô muốn làm rạng rỡ cho nước mình, nhưng chẳng biết là đã làm tổn hại đến cái đức tốt của Kiên” (tức là có khả năng “Ngô thư” đã thêm thắt chi tiết ngọc tỉ vào – NV), có thể xem là một lí giải phù hợp vậy.
Tiên chủ của Giang Đông
Tôn Kiên từng một lần rơi nước mắt khi chứng kiến đô thành Lạc Dương bị Đổng Trác tàn phá. Còn có lần thứ hai “mãnh hổ Giang Đông” này rơi lệ, là khi Viên Thiệu phái người đến đánh Kiên để tranh giành Dự Châu. Đổng tặc ở Trường An còn chưa phá được thì các chư hầu đã lo vun vén cơ đồ riêng, khiến cho Kiên phải bùi ngùi mà than rằng: “Cùng cất nghĩa binh, cứu giúp xã tắc. Nghịch tặc sắp bị phá mà mọi người như thế, ta sẽ hợp sức với ai đây!”.
Mười tám lộ chư hầu phạt Đổng là một cột mốc khiến cho nhiều người lột bỏ lớp mặt nạ, cũng sẽ khiến cho nhiều người thay đổi tâm tư. Tào Tháo từ một năng thần dần dần biến thành gian hùng. Viên Thiệu, Viên Thuật vốn mang danh trung thần rồi sẽ từ từ hóa thành kiêu hùng, bộc lộ dã tâm. Còn Tôn Kiên – một anh hùng đúng nghĩa cho đến thời điểm ấy, lại bối rối không biết về đâu, theo ai. Và cũng tại thời điểm ấy, Kiên bất hạnh qua đời, chết vì trúng phục binh của Hoàng Tổ khi dám “một mình một ngựa” [1] đi qua Hiện Sơn. Chiến tướng “lấy một cản trăm” năm xưa nay phải bỏ mình cũng vì sự táo bạo đã thành thói quen đó, cái chết ấy cũng không khác chuyện Tôn Sách sau này đi một mình rồi bị ám sát là bao. Dũng cảm quyết đoán, đến mức liều lĩnh khích liệt, để rồi chết trẻ, sự nghiệp dang dở, để lại bao nuối tiếc… âu cũng là một loại lựa chọn, một kiểu số phận của hai cha con Tôn Kiên – Tôn Sách vậy.
“Cùng cấp nghĩa binh, cứu giúp xã tắc. Nghịch tặc sắp bị phá mà mọi người như thế, ta sẽ hợp sức với ai đây!”
Đất Giang Đông không chỉ có mãnh hổ Tôn Kiên, Tiểu Bá Vương Tôn Sách hay Ngô chủ Tôn Quyền, mà còn có một Tôn Thượng Hương tuyệt sắc và cũng không kém phần oai hùng, về sau được gả cho chủ nhân Thục Hán – Lưu Bị. Cuộc hôn nhân này có gì đặc biệt?
Đón xem kỳ tới: Hôn nhân Tôn - Lưu: “Chồng gì anh, vợ gì tôi?”
Nguyễn Đỗ Thuyên
-----------------------------------------Chú thích và tham khảo:
[1] Tam Quốc Chí – Tôn Phá Lỗ, Thảo Nghịch truyện (NXB Văn học 2016, Bùi Thông dịch, Phạm Thành Long hiệu đính).
[2] Tức “nhận mệnh trời ban, thọ lâu vĩnh viễn”.
[3] Tức “nhận mệnh trời ban, thọ lâu khỏe mạnh”.
Top 5 đồ chơi ấn tượng nhất thế giới HD
Trinh Thanh
12:24
No comments
Tôn Ngộ Không truyện - Chi Bảo [Part1] HD
Trinh Thanh
12:22
No comments
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






